92. Nhân vụ sư Toàn xin giữ lại 300 tỉ: Kiểm toán dòng tiền khủng ở đền chùa

Không có phản hồi

BS: Việc lẽ ra phải là từ lâu. Nên trước tiên “kiểm toán” ở các thứ “chùa biến thái” như Bái Đính, Ba Vàng, Tam Chúc ….

Lao động

LĐO | 10/10/2019 | 07:00

Ông Lê Đình Thăng, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III kiểm toán lĩnh vực ngân sách Trung ương của Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ.
Ông Lê Đình Thăng, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III kiểm toán lĩnh vực ngân sách Trung ương của Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ.

Sự việc nhà sư Thích Thanh Toàn, trụ trì chùa Nga Hoàng, tỉnh Vĩnh Phúc xin giữ lại những tài sản trị giá hơn 300 tỉ đồng thuộc quyền sở hữu của mình đang khiến dư luận đặt câu hỏi về nguồn tiền đổ vào các cơ sở thờ tự hàng năm. 

Tổng nguồn lực của quốc gia luôn là hữu hạn

Theo ông Lê Đình Thăng, Kiểm toán trưởng Kiểm toán chuyên ngành III (Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III kiểm toán lĩnh vực ngân sách Trung ương của Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ), về nguyên tắc, nguồn lực tại các cơ sở thờ tự, đền chùa là một loại quỹ công cần có sự kiểm soát.

Ở nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia có nền kinh tế phát triển, nguồn quỹ công này được kiểm soát rất tốt và thông thường họ thông qua cơ chế kiểm toán để nhằm mục đích kiểm soát, tăng cường trách nhiệm giải trình và minh bạch trong việc sử dụng. Tuy nhiên, ở nước ta, việc kiểm soát nguồn quỹ công từ các cơ sở thờ tự, đền chùa còn là một lỗ hổng pháp lý. 

“Chúng ta đều biết rằng những năm vừa qua, các cơ sở thờ tự, các khu du lịch tâm linh với quy mô rất lớn và thu hút được nhiều người dân đang phát triển mạnh.

Song chúng ta vẫn chưa có cơ chế quản lý, kiểm soát những nơi này. Nguồn lực công sử dụng cho mục đích thờ tự nhưng không được thống kê, ban hành cơ chế kiểm soát và thực hiện kiểm toán việc sử dụng theo đúng mục đích. 

Và những điều xảy ra tại chùa Nga Hoàng như báo chí phản ánh trong thời gian qua chỉ là một điểm nhỏ trong tất cả những                 lỗ hổng pháp lý hiện nay, có thể dẫn tới lạm dụng tiền công đức. Theo chúng tôi, các quỹ công cần phải có cơ chế kiểm soát và phải được kiểm toán”, ông Thăng nhận định.

Ông Thăng cũng phân tích, tổng nguồn lực của quốc gia luôn là hữu hạn nên nếu dòng tiền chảy vào đền, chùa, cơ sở thờ tự nhiều thì sẽ giảm bớt tiền vào sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó dòng tiền vào cơ sở lại không quản lý, thiếu minh bạch, rất dễ dẫn đến trường hợp tài sản công đó biến thành của riêng.

Phải coi quỹ công đức, thiện nguyện là quỹ công và phải kiểm toán

Dù nhìn thấy rất rõ những bất cập, sự thiếu minh bạch trong việc quản lý nguồn thu chi tại các cơ sở thờ tự, song theo ông Thăng thì đang gặp khó khăn để thực hiện nhiệm vụ của mình tại khu vực được xem là “nhạy cảm” này. 

Mặc dù Hiến pháp đã quy định rõ về việc kiểm toán tài chính công và tài sản công là nhiệm vụ của KTNN. Tuy nhiên, Luật kiểm toán nhà nước lại không quy định cụ thể các loại quỹ công ở cơ sở thờ tự là nhiệm vụ của KTNN. 

“Theo tổ chức minh bạch tài chính thế giới việc quản lý các quỹ này có nguy cơ dẫn đến tham nhũng cao nhất. Song Việt Nam lại chưa có cơ chế quản lý thích hợp”, ông Lê Đình Thăng nhấn mạnh. 

Theo ông Thăng đã đến lúc chúng ta phải thay đổi tư duy về cách quản lý, phải coi các quỹ công đức, thiện nguyện là quỹ công và phải được kiểm toán. Luật KTNN cần quy định rõ trách nhiệm kiểm toán. Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường năng lực cho KTNN.  

“Chúng tôi đã nghiên cứu quy định của nhiều nước về vấn đề này, điều chúng ta cần lúc này là có sự đồng thuận. Một khi có sự quyết tâm của toàn hệ thống chính trị, sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ, Quốc hội thì tôi tin rằng chúng ta sẽ giải quyết được dứt điểm vấn đề này. Chúng ta phải nhận thức rằng, quy định kiểm toán là thẩm quyền của nhà nước về kiểm toán và kiểm soát các quỹ công chứ không phải là đặc quyền đặc lợi cho KTNN”, Kiểm toán trưởng chuyên ngành III nhấn mạnh. 

“Hiện nay, quỹ công được phân làm 3 loại:

Loại thứ nhất là quỹ công do nhà nước xác lập quyền sở hữu như ngân sách nhà nước hay một số quỹ khác thì đã quy định rõ và kiểm soát chặt chẽ. Loại quỹ này chiếm khoảng từ 22-25% thu nhập quốc dân hàng năm và KTNN thực  hiện kiểm tóan hàng năm.

Loại thứ 2 là quỹ công thuộc sở hữu chung của nhiều người nhưng không ai đại diện chủ sở hữu và trong trường hợp này chính phủ đứng ra làm đại diện chủ sở hữu như quỹ  bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Quỹ này cũng được KTNN kiểm toán hàng năm nên công tác kiểm soát cơ bản là ổn. 

Loại thứ 3 là quỹ khác do nhà nước ban hành cơ chế quản lý, đây là các quỹ công mà các cơ sở thờ tự, các quỹ thiện nguyện hay các quỹ  khác quy mô nhỏ, không của riêng ai mà là của chung nhưng quy mô quỹ nhỏ và rải rác nhiều loại quỹ và nhiều hình thức khác nhau.”

Kiểm toán trưởng Kiểm toán chuyên ngành III – KTNN Lê Đình Thăng

THUỲ DUNG

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.